Chăm sóc trẻ bệnh

tre-nghe-nhac2 Vài ba tháng đầu đời trẻ ít bệnh là nhờ những kháng thể của mẹ còn dự trữ, sau đó phải “ tự lực” nên những tháng tiếp theo, trẻ mắc rất nhiều thứ bệnh Ngoài những bệnh do vi trùng, sịêu vi  trùng gây ra, trẻ còn dễ mắc những bệnh do sai dinh dưỡng, do chăm sóc không đúng cách. Khi mắc bệnh, trẻ cũng “mắc” không giống người lớn. Cùng một thứ bệnh, cùng do một tác nhân, ở người lớn và trẻ con bệnh cảnh rất khác nhau. Do đó,  không thể lấy kinh nghiệm bản thân để “ suy ra” cho trẻ được. Thuốc dùng cũng vậy. Đã có trường hợp bé chết giấc vì nhỏ mũi bằng thuốc của người lớn, có trường hợp bị ngộ độc vì một loại xi-rô ho người lớn! Một câu nói đã cũ nhưng vẫn còn rất đúng trong Nhi khoa: “ Trẻ con không phải là một người lớn thu nhỏ”.

Các thứ thưốc trong toa bác sĩ thường đã được cân nhắc tính toán, phối hợp để có tác dụng tốt nhất. Liều lượng rất quan trọng ở trẻ. Tự ý thay đổi thuốc, uống không đủ liều lượng, bệnh sẽ không khỏi. Cần xem kỹ thuốc mua và thuốc ghi trong toa. Đã có trường hợp nhà thuốc bán nhầm thuốc vì chữ khó đọc hay tên thuốc na ná giống nhau. Nếu thắc mắc nên hỏi kỹ lại trước khi cho trẻ dùng.

Nguyên tắc chung, ở trẻ nhỏ, càng ít dùng thuốc càng tốt. Chỉ nên dùng thuốc khi thật sự cần thiết. Nếu là thuốc viên, nên cho trẻ “ăn” hơn là uống,. Tán nhuyễn, chấm vào miếng chuối hoặc trộn vào kem, vào yaout… để trẻ dễ nuốt.  Đừng cưỡng bức trẻ uống thuốc viên có thể bị sặc rất nguy hiểm.  Thường các trường hợp nặng nằm bệnh viện mới cần phải chích thuốc. Không đáng chích mà chích, tội nghiệp trẻ. Trẻ sẽ “giận” mẹ lâu và nhìn thầy thuốc với “đôi mắt hình viên đạn”!.

Với các loại thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi, nhỏ tai… nên “ tranh thủ” nhỏ lúc trẻ ngủ, đỡ khó chịu. Hãy thử nhỏ cho mình vài giọt xem có “khoái” lắm không nhé? Thuốc nhét hậu môn có thể gây tiêu chảy. Nên ngâm lạnh cho thuốc đặc cứng lại trước khi nhét.

Thuốc không rõ tác dụng, thuốc cũ, quá hạn, không rõ liều lượng, không rõ cách dùng thì không nên dùng. Rủi có gì thì khổ. Uống vào không lấy ra được và hối hận thì đã muộn!

Chăm sóc trẻ bệnh phải bình tĩnh, nghiêm trang nhưng dịu dàng và từ tốn. Không tỏ ra quá lo lắng hốt hoảng làm trẻ sợ hãi thêm. Cử chỉ lời nói cố tự nhiên, bình thản, trẻ mới nghe theo. Cho trẻ chơi các đồ chơi như xếp hình, cắt giấy, xem truyện tranh…sẽ giúp trẻ quên bệnh.  Thuốc chỉ là một phần trong điều trị, cách săn sóc mới là quan trọng. Trẻ bệnh vẫn cần ăn, cần uống đầy đủ để có sức chống bệnh. Kiêng cử là một sai lầm lớn làm bệnh kéo dài thêm. Trẻ bệnh, muốn mau khỏi cần được thoải mái, dễ chịu. Nếu cứ nhốt trẻ trong phòng kín bưng, ủ ấm, mặc nhiều lớp quần áo khiến mồ hôi không thoát ra được, da không thở được thì bệnh càng nặng thêm. Trẻ vẫn cần được tắm rửa sạch sẽ ( nước ấm ), tránh gió, nhưng phải thoáng khí. Quần áo mát mẻ, thoáng, hút mồ hôi, cho bú mớm đầy đủ thì bệnh mới mau khỏi.

Làm sao biết trẻ mắc bệnh?

Trẻ không biết nói, không biết diễn tả các triệu chứng của bệnh, hoặc nếu có biết thì cũng thừờng không chính xác. Lúc được khám bệnh, trẻ sợ không dám khai rõ bệnh tình. Ngược lại, có khi kể lung tung…Nhiều bé mới học được từ “ nhức đầu”, “ đau bụng” đã đem ra sủ dụng liên tục khiến cho mẹ và thầy thuốc cũng hết sức lúng túng.
Thân nhân trẻ em, cô nuôi dạy trẻ, người giúp việc… cũng không nắm rõ bệnh sử, đôi khi cũng không trung thực vì quá lo âu hoặc quá lơ đễnh.
Do vậy, phải có kinh nghiệm và một vài nguyên tắc để phân biệt trẻ khỏe, trẻ mệt và trẻ bệnh như dưới đây:

Trẻ khỏe

  • Vui vẻ, hài lòng, tươi tỉnh, thích nhìn ngắm chung quanh, phá phách, chống cự mạnh mẽ khi không vừa ý.
  • Ăn được ( bú mạnh ), ngủ được, lên cân đều.
  • Nếu một trẻ được như trên thì dù đi tiêu chảy ngày 5-7 lượt cũng không sao, dù nghẹt mũi, sụt sịt thường xuyên cũng không sao.

Trẻ mệt

Thỉnh thoảng một đôi lúc nào đó trong ngày, ta có thể thấy trẻ mệt do đói, do khát, do thiếu tình thương, lúc đó trẻ thường yên lặng, xuị lơ, không hoạt bát linh động nữa; hoặc ngược lại, khóc lóc, cằn nhằn, khó chịu, bứt rứt không yên… Nếu được âu yếm, cho ăn uống đầy đủ, trẻ sẽ ngủ say và tỉnh giấc sẽ vui vẻ, hoạt bát như cũ.

Trẻ bệnh

  • Trẻ dã dượi, mệt mỏi, lừ đừ, nằm vùi suốt ngày. Người mẹ dễ nhận biết trẻ có vẻ gì khác thường, bỏ ăn, bỏ chơi, ngậm vú mà không nút hoặc khóc thét lên, v.v…Trẻ cũng có thể bứt rứt, dỗ không nín.

Trẻ bị bệnh nặng

Nếu trẻ nằm li bì, gọi không dậy hoặc sốt cao, lơ mơ nói nhảm là bệnh nặng.

Các dấu hiệu bệnh nặng phải đưa đến y tế gấp:

  • Quá nóng hoặc quá lạnh
  • Thở khò khè, co kéo cơ lồng ngực.
  • Tay chân lạnh, mạch nhanh, tím tái, rịn mồ hôi.
  • Mắt lõm, thóp lõm, miệng khô, khát nước
  • Làm kinh ( co giật)
  • Mỏ ác (thóp) phồng,
  • Có dấu xuất huyết dưới da, vết bầm ở da
  • Các tai nạn, thương tích…

Riêng trẻ sơ sinh (dưới một tháng tuổi) khi thấy các dấu hiệu sau đây là bệnh nặng phải đưa ngay đến bệnh viện:

  • Da tím tái hay trắng bệch.
  • Bú yếu, bỏ bú.
  • Ói mửa.
  • Co giật ( làm kinh) hoặc giật mình, chới với.
  • Thịt (bắp cơ) nhão hoặc cứng ngắt.
  • Thóp phồng căng.
  • Khóc thét dỗ không nín.
  • Thở nhanh hơn 60 lần/phút.
  • Vỗ tay không giật mình, hoặc chỉ giật một bên ( trái hay phải).

Cần làm gì khi phải đi khám bác sĩ?

Cần biết trẻ nặng bao nhiêu ký

  • Nếu đã theo dõi cân nặng hàng tháng hoặc có Biểu đồ tăng trưởng thì rất tốt, Nếu không biết, nên cân thỉnh thoảng để biết hoặc cân lúc khám bệnh, lúc chủng ngừa.
  • Phải biết cân nặng của trẻ bác sĩ mới cho thuốc đúng liều lượng, bệnh mới mau khỏi. Và cũng để đánh giá trẻ có lên cân đều không, có phát triển tốt không?

Cần biết rõ bệnh sử

  • Phải biết rõ bệnh khởi sự vào lúc nào ( nhớ rõ ngày giờ càng tốt), triệu chứng gì xảy ra trước. Thí dụ: nóng rồi mới ho, đau bụng hay đau bụng rồi mới nóng? Nếu cần, phải biết rõ chi tiết như ho thì ho kiểu nào? Ho từng cơn dài hay ho khan, ho có đàm hay khạc có máu? Ho ngày hay ho đêm? Tiêu chảy thì tiêu ngày mấy lần, phân loãng hay đàm máu? Đi có rặn không? Phân màu gì, mùi gì?…  Tốt nhất là nên ghi ra giấy cho khỏi quên.
  • Tất cả những chi tiết đó đều rất cần thiết để chẩn đoán bệnh và điều trị đúng, do đó, cần hết sức chú ý theo dõi diễn tiến bệnh của trẻ để hợp tác tốt với thầy thuốc hoặc có các biện pháp xử trí đúng.
  • Cũng cần biết rõ tiền sử bản thân và gia đình, tiền sử sản khoa. Cần biết cân nặng lúc sanh, các bệnh cũ đã mắc phải từ trước, đã chủng ngừa những loại bệnh nào, Tiền sử rất quan trọng. Bé sinh non, sinh đôi, sinh ngộp, sinh mổ dĩ nhiên là có “ vấn đề”. Gia đình có ngừơi bị suyễn, bị lao, dị ứng… bé cũng có thể mắc những bệnh đó.
  • Cần biết rõ về dinh dưỡng của trẻ. Nhiều thứ bệnh ở trẻ do ăn uống sai lầm mà ra, chỉ cần sửa chữa cho đúng là khỏi bệnh mà thuốc men không cần thiết. Suy dinh dưỡng hay béo phì đều là những vấn đề do SAI dinh dưỡng, cần điều chỉnh và mất rất nhiều thời gian. Phải kiên nhẫn.Trong nhi khoa “ phải chú ý đến bếp ăn hơn là tủ thuốc” là vậy!

Lúc thăm khám:

Theo sự hướng dẫn cụ thể của thầy thuốc, tùy trường hợp có thể có những cách khám khác nhau, nói chung thường trong nhi khoa

  • Dưới 6 tháng: nên khám nằm.
  • Trên 6 tháng: khám ngồi, đỡ sợ hơn, có thể ngồi trên gối mẹ.
  • Trẻ lớn : có thể đứng hay ngồi, tùy trường hợp, khi cần thiết lắm mới phải khám nằm.
  • Nên bỏ hết áo, tã, giầy, vớ, chăn mền, khăn lông trùm quấn quanh bé mới khám kỹ được. Nhiều bà mẹ sợ gió, chỉ dám mở hé hé thì không thể quan sát toàn diện được. Tuy nhiên lúc khám cũng không đựơc để trẻ bị lạnh (quạt máy, máy lạnh).
  • Thường chú ý những dấu hiệu quan trọng trước, rồi mới lần lượt khám toàn diện sau.

Thí dụ :

  • Tiêu chảy thì chú ý dấu hiệu mất nước.
  • Làm kinh thì chú ý dấu hiệu màng não (mê man? thóp phồng?).
  • Sốt xuất huyết thì chú ý khám mạch và vùng gan là những dấu hiệu cho biết giai đoạn tiền sốc để can thiệp kịp thời.
  • Ho thì đếm nhịp thở, nghe phổi, v.v…

Xét nghiệm

Một đôi khi cần làm xét nghiệm để giúp cho việc chẩn đoán. Các xét nghiệm thông thường như thử máu, thử phân, thử nước tiểu, thử nhớt họng, chụp phim X-quang, siêu âm, nội soi v.v… Cần thiết lắm mới phải làm xét nghiệm, không nên tự ý làm, cũng không nên đòi hỏi khi không có chỉ định của bác sĩ. Trái lại khi có chỉ định, thì cần hợp tác với thầy thuốc giúp cho việc chẩn đoán chính xác hơn. Thí dụ trong bệnh sốt xuất huyết, chưa đến lúc cần thử máu mà đòi thử sớm quá sẽ thấy máu bình thường rồi mất cảnh giác, trái lại khi bệnh diễn tiến xấu, có khi  phải thử máu nhiều lần (đo Hematocrite) trong ngày..

BS Đỗ Hồng Ngọc

This entry was posted in Y tế. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s